Lưu trữ Blog

Thứ Hai, 12 tháng 12, 2016

Ở TRỌ (Truyện ngắn của cô Lê Thị Xuyên)



Vợ chồng Hà ra trường đã gần mười năm, chật vật lắm mới mua được một mảnh đất và vẫn còn phải đi thuê trọ vì chưa có tiền xây nhà. Đầu phố huyện, căn nhà cấp bốn cũ kỹ vợ chồng Hà thuê trọ lọt thỏm giữa những ngôi nhà cao tầng khang trang.

Trước đây, ngôi nhà này vốn được chủ của nó xây lên chủ yếu để làm xưởng gỗ là chính, còn ở chỉ là tạm bợ. Nhà thẳng đuột, rộng chừng 3m nhưng dài đến gần 30m. Cả căn nhà chỉ được chia làm đôi bởi một bức tường ngăn ở giữa, không có phòng riêng. Trong nhà, tường hoen ố, lỗ chỗ những lỗ hổng, nứt nẻ ngang dọc. Mái tôn đã lâu ngày đâm ra hư hỏng nặng. Mùa mưa, vợ chồng Hà cùng hai cô con gái lại hối hả lấy toàn bộ xoong, nồi, thùng, chậu ra để hứng nước dột. Biết là mình thuê trọ, muốn ở lâu dài thì phải tu bổ lại, nhưng muốn làm thì phải thay đổi hoàn toàn, khác gì làm nhà mới, mà tiền bạc thì đâu sẵn có. Nghĩ đến những lần đi thuê trọ, chồng Hà lại lắc đầu ngao ngán.

Chẳng hiểu sao, căn nhà cũ nát này lại có duyên với vợ chồng Hà đến thế. Hà sinh đứa con gái đầu lòng ở tại căn nhà này. Ngôi nhà mặt phố tiện cho Hà đi dạy ở trung tâm giáo dục thường xuyên vào buổi tối, tiện cho việc gửi con nhỏ và đặc biệt cũng tiện cho Huy, chồng Hà mỗi khi vượt hơn hai mươi cây số đi dạy trong những ngày mưa bão. Chủ nhà đi làm ăn xa, một năm chỉ về hai lần để làm giỗ ông bà và đón Tết. Tiền thuê nhà, vợ chồng Hà trả sòng phẳng, dù đôi lúc Hà vẫn thường càu nhàu hay than thở với chồng:

- Nhà dột nát thế này, vậy mà chị chủ vẫn cứ lấy một triệu đồng một tháng, chẳng bớt đồng nào để mua sữa cho con.

Những khi đó, Huy lại nhìn vợ, an ủi:

- Thôi mà em. Người ta cũng cần tiền như mình. Giá cả họ cũng cho thuê từ trước đến giờ như vậy rồi. Cứ thế mà trả.

Nghe lời chồng, Hà lại ngậm bồ hòn cho qua.

Cách đây một năm, vợ chồng Hà phải chuyển đi ở trọ nơi khác vì nhà bà Mười bên cạnh làm nhà mới. Chuyện kể ra rất dài, nói ngắn gọn là ngôi nhà trọ vợ chồng Hà đang ở mượn bức vách của nhà bà Mười. Nay họ đập đi, làm nhà mới, họ lấy đi bức vách, tự nhiên căn nhà thấy cứ tông hổng kỳ kỳ. Thêm phần con cái còn nhỏ, hay chạy đi chạy lại, làm sao ở được. Thế là Huy bàn với vợ tìm nhà trọ mới rồi chuyển đi. Đang yên lành với nơi ở mới, nghĩ rằng sẽ không phải chuyển đi nơi khác nữa thì vợ chồng Hà lại được chủ nhà thông báo:

- Vợ chồng em lo tìm nhà mới đi nhé! Chị đã đồng ý bán ngôi nhà cho người ta. Giấy tờ làm gần xong rồi. Chị xin lỗi...

Huy sững người, chẳng biết nói thế nào. Ngày chuyển đến, họ nói ngon nói ngọt rằng vợ chồng em cứ ở bao lâu cũng được. Mới ở được một năm, họ lại bảo phải chuyển đi. Hà nghe chồng nói lại mà thấy nản. Cô ước cái nghề giáo của mình giá như cũng làm ra tiền như người ta thì đâu đến nỗi nay phải thuê trọ chỗ này mai lại thuê trọ chỗ khác. Đã thế, cô lại dạy hệ bổ túc. Học viên lèo tèo được vài người, lúc nào cũng nơm nớp lo không duy trì được sĩ số của lớp.

Hà lọc cọc trên chiếc xe đạp đã trở thành người bạn thân thuộc với cô mấy năm nay, lang thang khắp các con hẻm, ngõ phố hỏi thăm nhà thuê trọ. Thấy mặt vợ ỉu xìu, Huy cảm thấy thương vợ nhưng chẳng biết làm thế nào ngoài mấy câu an ủi. Như có ai xui khiến, đang ngó nghiêng hai bên đường phố, bỗng giọng bà Mười gọi với. Trò chuyện với bà, Hà mới biết ngôi nhà mà vợ chồng chị thuê trọ trước đây có cặp vợ chồng trẻ thuê mở tiệm cắt tóc nhưng làm ăn không được nên vừa mới trả lại. Thế là Hà gọi điện cho cô chủ nhà. Và rồi việc chuyển lại nhà cũ lại đè lên hai vai Huy. Cứ mỗi năm sắm sanh thêm một vài thứ, đâm ra đồ đạc trong nhà thêm nhiều. Khâu vận chuyển càng vất vả, cực nhọc hơn.

Xuống nhà trọ cũ, vợ chồng Hà lại có thêm một cô công chúa. Cuộc sống của hai vợ chồng với hai cô con gái cứ bình yên trôi đi.

Đi dạy về, Hà thấy chồng ngồi trước bàn máy vi tính nhưng mặt lại hướng ra đường với vẻ lơ đãng. Chị tò mò:

- Anh mệt trong người hả?

Nghe vợ hỏi, Huy liền hướng cái nhìn về phía vợ như than phiền:

- Ồn ào quá, anh chẳng làm việc được.

Hà hiểu ý chồng. Sống với Huy gần mười năm trời, cộng thêm bốn năm yêu nhau thời sinh viên, Hà biết Huy rất thích không gian thật yên tĩnh. Anh đã từng nói với chị rằng, ở nơi yên tĩnh, anh có thể tập trung làm được nhiều việc. Còn ở đây thì... Cạnh nhà trọ vợ chồng Hà ở, một bên là tiếng máy may chạy bằng điện của bà Mười cứ re re, một bên là tiệm sửa xe máy cứ ìn ìn, còn đối diện là nhà làm đá lạnh với tiếng chặt đá, cưa đá re ré suốt ngày. Rồi xe cộ nườm nượp qua lại trên đường bóp còi inh ỏi. Đã thế, bên cạnh bàn làm việc của Huy, chiếc quạt máy cũ kỹ, nay khô dầu cứ rè rè khiến anh vò đầu bứt tóc. Đã mấy lần Huy đứng dậy, lững thững ra ra vào vào rồi thở dài. Thấy vậy, Hà liền an ủi chồng:

- Ở lâu sẽ quen thôi anh à. Ngày trước, vợ chồng mình cũng đã ở đây gần bốn năm đó thôi. Em tin anh sẽ thích nghi được.

Nghe vợ nói, Huy tư lự. Nét mặt anh bớt đi vẻ căng thẳng, nhăn nhó. Cốc nước chanh Hà pha rồi đem đưa tận tay cho Huy khiến anh nở nụ cười thật tươi. Anh nhìn vợ với bao âu yếm, yêu thương.

Sáng nay, trong căn nhà trọ bỗng vang rộn tiếng nói cười. Quây quần bên mâm cơm gia đình, cạnh vợ chồng Hà và hai cô con gái còn có mấy đồng nghiệp của Hà và Huy. Họ nâng cốc chúc mừng Huy vừa bảo vệ thành công luận án tiến sĩ cách đây mấy hôm. Huy thở phào nhẹ nhõm. Anh nghĩ lại ba năm đằng đẵng vật lộn với việc làm luận án khi ở nhà trọ này, ngôi nhà đặc biệt đã ghi dấu bao kỷ niệm với vợ chồng anh.

cô Lê Thị Xuyên
Nguồn: Báo Khánh Hòa

VẺ ĐẸP CỦA NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA BÀI THƠ "BÁNH TRÔI NƯỚC" (Thầy Nguyễn Đình Thu)


(Baoquangngai.vn)- Ở Việt Nam, hình ảnh người phụ nữ không chỉ xuất hiện qua những trang sử hào hùng mà còn là nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận cho thi ca, nhạc, hoạ,... Trong tiếng nói về người phụ nữ, “bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương có thể được xem là nhà thơ của phụ nữ.
Phần lớn những thi phẩm bà viết là viết về người phụ nữ hoặc qua đó thể hiện cách nhìn của nữ sĩ. Điều đáng nói là đến thơ Hồ Xuân Hương, nhà thơ không hóa thân vào nhân vật trữ tình nhập vai mà trực tiếp nói lên tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến thối nát, bất công, khẳng định vẻ đẹp tự thân của người phụ nữ, đòi nữ quyền.
Bánh trôi nước là một bài thơ vịnh vật, viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Vịnh về một món ăn dân gian là cái nghĩa bề nổi, tảng băng ẩn tàng dưới hình ảnh cái bánh trôi là vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Cái tài, sự độc đáo của nữ sĩ Xuân Hương là chỉ với vài nét vẽ cơ bản nói lên đặc trưng của chiếc bánh trong khuôn khổ 28 chữ mà khơi gợi nên bao điều về người phụ nữ xưa, nhất là về vẻ đẹp của họ:

        Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
        Bảy nổi ba chìm với nước non.
        Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
        Mà em vẫn giữ tấm lòng son.


Đứng trước một người phụ nữ, ấn tượng đầu tiên của mỗi người là ở vẻ đẹp hình thức, hình thể rồi mới đến vẻ đẹp về phẩm chất, tâm hồn. Và cách nhìn của Hồ Xuân Hương cũng không nằm ngoài tâm lý, quy luật nhận thức ấy.
Câu thơ thứ nhất, với hai tính từ trắng, tròn dùng để miêu tả màu sắc và hình dáng của bánh trôi đã chuyển nghĩa, khơi gợi trí tưởng tượng của người đọc về vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ. Có thể nói, mong muốn và cũng là chuẩn mực trong cách nhìn truyền thống về hình thức một người phụ nữ đẹp trước hết phải là nước da trắng: Cổ tay em trắng như ngà/ Con mắt em liếc như là dao cau…(Ca dao).

Và với Hồ Xuân Hương, đó như một nét đẹp xuyên suốt trong cách nhìn về vẻ đẹp hình thức của giới nữ trong sáng tác của tác giả (Tranh tố nữ, Vịnh cái quạt,…). Nước da trắng, nhất là trắng hồng đã nói hết được vẻ xinh xắn, tươi tắn của một người con gái. Không những thế vẻ tròn trịa của chiếc bánh còn gợi lên một vẻ đẹp hình thể tròn đầy, đầy đặn theo quan niệm thẩm mĩ truyền thống của người Việt về một vẻ đẹp viên mãn.

Vẻ trắng trẻo, nét tròn đầy ấy thật bắt mắt, thật tràn đầy sức sống, chứa đựng bao khát khao rạo rực, thể hiện cái nhìn tươi trẻ, lạc quan của nữ sĩ, và cũng là cái nhìn của nhân dân, nhất là những người dân lao động. Cũng có thể nói thêm rằng, đằng sau vẻ trắng trẻo, đầy đặn ấy còn giúp chúng ta liên tưởng đến vẻ trắng trong, phúc hậu của người phụ nữ Việt Nam, một nét đẹp tâm hồn hồn nhiên, thuần phác, mang quan niệm, cốt cách Việt.
Đến câu thơ thứ hai, ai cũng biết thông qua nói về cách luộc bánh trôi, nhất là ở việc sử dụng thành ngữ Ba chìm bảy nổi mà lại đảo câu thành ngữ cho chữ chìm nằm ở cuối, nhà thơ ngầm thể hiện sự long đong, cơ cực của người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến.
Nhưng có lẽ ít ai thấy được rằng, đằng sau sự long đong cơ cực ấy là vẻ đẹp tần tảo, chịu thương chịu khó, đức hy sinh, nhẫn nại của người phụ nữ Việt Nam. Đây chính là nét đẹp truyền thống mà không ai có thể phủ nhận được.
Nói đến đây, bỗng nhiên ta nhớ đến hình ảnh người phụ nữ trong ca dao một mình nuôi con để chồng tham gia chiến trận: Cái cò lặn lội bờ sông/ Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non…, hay hình ảnh bà Tú trong bài thơ Thương vợ của Tú Xương: Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng...
Ở hai câu thơ cuối, vẫn tiếp nối mạch thơ nói về số phận bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (cụ thể là nói đến một thân phận phụ thuộc) nhưng ý thơ tập trung vào việc khẳng định phẩm chất quý báu, vấn đề sống còn của mỗi người phụ nữ theo quan niệm đạo đức phong kiến, và cũng là vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam: Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn/ Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Hình ảnh tấm lòng son ở đây dĩ nhiên nhà thơ không dùng với ý nghĩa tượng trưng cho tấm lòng yêu nước thương dân như trong thơ Nguyễn Trãi mà tượng trưng cho tấm lòng thuỷ chung son sắt của người phụ nữ, nhất là người vợ.

Chẳng phải từ xa xưa, đạo tam tòng tứ đức buộc người phụ nữ khi có chồng phải một mực thuỷ chung mà ngay cả trong hiện tại hay ở bất kỳ thời đại nào thì đây luôn là phẩm chất quý báu của người phụ nữ được mọi người trong xã hội coi trọng, đề cao.
Điều đáng chú ý trong hai câu thơ cuối của bài thơ là Hồ Xuân Hương đã khẳng định vẻ đẹp thuỷ chung của người phụ nữ với thái độ đầy tự tin, tự hào qua cách diễn đạt bằng cặp quan hệ từ đối lập: mặc dầu… mà. Có thể nói, dù hoàn cảnh, số phận người phụ nữ có long đong, lận đận, dù phải sống với thân phận phụ thuộc nhưng mẫu số chung vững bền ở họ là tấm lòng thuỷ chung sáng ngời.

Gần như cứ qua mỗi câu thơ, nhà thơ lại mở ra cho chúng ta thấy được một vẻ đẹp khác của người phụ nữ, mà lại rất đặc trưng cho vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam. Qua hình ảnh ẩn dụ là bánh trôi nước, từng vẻ đẹp của người phụ nữ được khơi gợi thật tinh tế.
Nhìn về vẻ đẹp của người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã ca ngợi, khẳng định ở cả vẻ đẹp hình thức lẫn vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn, tạo cho độc giả có một cái nhìn về một vẻ đẹp hoàn mỹ của người phụ nữ Việt Nam. Đề cao vẻ đẹp của người phụ nữ với một thái độ khẳng định đầy tự tin chính là cốt lõi nhân văn, là bản lĩnh và cũng là phong cách thơ Hồ Xuân Hương.
                                                                                     
NGUYỄN ĐÌNH THU
Bài đã đăng trên Báo Quảng Ngãi

ĐƯỜNG QUÊ YÊU DẤU (Tạp bút của thầy Nguyễn Đình Thu)

     Ai đã từng sinh ra và lớn lên chốn quê kiểng lại không từng gắn bó với những con đường quê. Những con đường đất. Những con đường không được đặt tên. Những con đường nhỏ nhắn, quanh co. Những con đường chỉ toàn cây cỏ… Ấy thế mà nó lại như mảnh hồn quê níu bước chân những ai đi xa lâu ngày đến thế!

Bây giờ, nơi nơi thi đua xây dựng nông thôn mới. Những con đường làng đã được khoác lên mình tấm áo mới là lớp bê tông vững chãi, đêm về đèn điện được bắt sáng choang trông thật khang trang. Ấy thế mà sao ta vẫn nhớ hình ảnh những con đường làng đất cát đến thế. Một thời, ta theo sau gánh khoai của mẹ đi bán khắp đường làng ngõ xóm. Mưa xuống, gánh khoai kĩu kịt lại đè nặng trên đôi vai mẹ hao gầy, bàn chân mẹ bấm chặt xuống đường đất trơn chệnh choạng. Ta chưa biết gì, lại thấy thích thú khi được đặt bước chân lên những vũng nước mưa hay bùn đất nhầy nhụa trên đường làng, cảm giác mát lạnh, mơn man khắp da thịt.

Đi trên những con đường đất trong làng, ta còn cảm nhận được mùi âm ẩm, ngai ngái bốc lên, nhất là những khi có cơn mưa bất chợt đổ xuống. Đó là mùi của đất mẹ, của quê hương xứ sở mà có lẽ những ai xa quê đến chốn thị thành không dễ gì quên được. Còn gì thoải mái hơn khi ta dạo bước trên đường đất quanh co, ngắm nhìn những rào giậu tươi xanh, những luống rau quê mơn mởn ngọt lành.

Một chiều lang thang trên đường bờ đê quê nhà, nhớ sao tuổi thơ ta, từng dấu chân xưa như vẫn còn in trên triền đê ngập tràn cỏ mướt. Những buổi chiều lộng gió, ta để mặc đàn bò nhởn nhơ gặm cỏ, chân ta chạy trên mặt đê, mắt ta dõi theo cánh diều dập dìu lên xuống, chao lượn. Và thế là hai ống quần ta dệt kín bông may! Để mặc như thế, ta ngồi trên bờ đê, lấy những bông cỏ may cuống hãy còn tươi non thả xuống hang mối. Và thế là kiểu gì cũng kéo được những chú mối béo mẫm háu ăn lên khỏi mặt đê. Cả bọn trẻ chăn trâu xúm đầu lại nghịch mối trong tiếng cười nắc nẻ.

Hoa cỏ may, thứ hoa đồng nội ta có thể dễ dàng bắt gặp bất cứ nơi đâu, nhưng có lẽ chỉ ở những bờ đê vào dịp cuối thu chúng mới nhiều và đẹp đến thế. Bông may tim tím khi còn xanh rồi chuyển màu bàng bạc lúc khô dần, cứ phất phơ trước gió, trông thật gợi tình. Có lẽ vì thế mà từ lâu nó đã trở thành nguồn cảm hứng dạt dào cho những thi sĩ, làm nên những vần thơ đi cùng năm tháng: “Hồn anh như hoa cỏ may/Một chiều cả gió bám đầy áo em…” (Nguyễn Bính). Con đê làng giăng mắc những bông may là chứng nhân cho biết bao mối tình trai gái. Và rồi, khi không đến được với nhau, bờ đê, cỏ may lại như những người bạn để họ chia sẻ, tâm tình: “Trăng vàng đêm ấy bờ đê/Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may” (Phạm Công Trứ).

Ai ở chốn đồng quê hẳn sẽ không thể quên được những con đường bờ vùng chạy thẳng xuống cánh đồng bát ngát hay đường bờ thửa ôm từng ruộng lúa chín vàng. Nơi thôn quê, làng xóm ở cạnh hoặc có khi nằm giữa cánh đồng. Từ nhỏ, ta đã biết men theo đường bờ vùng, bờ thửa cắt cỏ, chăn trâu. Những ngọn cỏ tươi non nép mình bên bờ lúa cứ thế theo tay liềm ta thoăn thoắt. Dọc theo những con đường này còn là không gian lý tưởng cho những chú cua đào hang làm nhà ở. Những hôm thèm canh cua, nhất là mùa lúa trổ, ta lại mang giỏ ra đồng. Những chú cua đồng béo vàng ẩn mình trong hang, lấm lem bùn đất cứ thế được ta bắt bỏ giỏ, tròn xoe mắt nhìn, theo ta về nhà. Rồi ngày mùa rộn rã đến. Các bác nông dân lại quảy từng gánh lúa nặng trĩu bước đi trên đường làng, gọi nhau í ới, khuôn mặt rạng rỡ báo hiệu một vụ mùa bội thu.

Ta lớn lên, khát vọng giục giã bước chân ngày một đi xa. Bao năm sống xa quê, ta đã từng đặt chân đến biết bao con đường. Và rồi một ngày trên con đường lớn nơi đất khách quê người, lòng ta lại nao nao nhớ về những con đường quê yêu dấu.

Bút danh Tự Tri
Bài đã đăng trên Báo Quảng Nam

VỌNG...

Mưa
  Đêm rót vào lòng
    Rưng rưng
      Róc rách
        Mưa chui vào cửa sổ
          Nằm chơi
            Có ánh mắt người
              Rười rượi
                Bị bắt gặp rồi
                  Quay đi
                     Người ta vất vả
                       Lết lê
                         Thi hài bết bê
                           Mảnh dẻ
                             Có kẻ
                               Va vào giấc mơ đêm qua
                                  Quỵ ngã
                                     Mảnh hồn rơi ra
                                        Bay mất
                                          Chuyến xe màu hạt dẻ
                                            Lạc vào đêm sâu hun hút
                                              Những mảnh kiến muộn phiền
                                                Ứa tuôn.
                                                                    An Vi